Khi tiến hành ván chơi cờ tướng, mỗi đấu thủ phải tự ghi biên bản. Xưa kia người ta giao cho trọng tài bàn làm đièu này, nhưng từ hơn 10 năm qua, cờ Tướng cũng học tập bên cờ Vua buộc đấu thủ phải trực tiếp ghi lấy. Nếu không ghi sẽ bị loại khỏi giải. Do đó việc đào tạo kỳ thủ cờ Tướng ngay từ khi mới học cách chơi phải quan tâm dạy cách ghi biên bản. Muốn ghi được biên bản cần nắm các qui ước sau đây:

1. Qui ước về cách gọi các nước di chuyển quân

Phần trước đã có nêu: tuỳ mỗi loại quân có cách đi khác nhau nhưng tựu trung có ba dạng.

a. Tấn

Tấn (hay tiến) là di chuyển quân ra phía trước. Mọi quân cờ đều thực hiện được nước tấn theo kiểu riêng của mình. Như quân Xe tấn 5 có nghĩa là nó tấn lên 5 giao điểm trước mặt, không tính vị trí nó đang đứng. Nói rõ hơn, quân Xe ở lộ 2, tại vị trí tuyến đáy của nó, nếu Xe tấn 4 tức là tấn lên hà, nếu Xe tấn 6 tức là lên ngay hàng tuyến Tốt của đối phương, còn tấn 5 tức là nó đứng bên hà của đối phương. Trong thuật ngữ cờ, nếu Xe đứng bên hà của nó thì gọi là “Xe tuần hà”, còn sang hà của đối phương thì gọi là “Xe kỵ hà”, nếu xuống ngang hàng tuyến Tốt thì gọi là “Xe quá hà”.

Trường hợp quân Pháo tấn lên thì cũng giống như Xe, cứ đếm số giao điểm trước mặt nó (không kể vị trí nó đang đứng) đến vị trí mới, có mấy giao điểm là nó tấn lên mấy bước.

Nhưng quân Sĩ, Tượng và Mã thì có cách đi khác Xe, Pháo nên không đếm số giao điểm được mà phải căn cứ số thứ tự của đường dọc mà nó mới đến để biết nó tấn lên đâu. Chẳng hạn quân Mã trắng ở vị trí ban đầu trên lộ 2, nếu tấn lên, bắt buộc nó phải nhảy sang lộ 1 hoặc lộ 2 hoặc 4 (nếu không có Tượng 3 cản). Còn quân Tượng 3 cũng vậy, nếu tấn lên, nó có thể lên lộ 1 hay còn gọi là lên biên, hoặc là nó lên lộ 5 hay cũng gọi là lên đầu. Sĩ ở lộ 4 hoặc lộ 6 nếu tấn lên thì chỉ lên lộ 5 tức là lên giữa cung.

b. Thoái

Thoái hay thụt lui là đưa quân trở lại, hướng về phái trận địa của mình. Tất cả mọi loại quân đều có thể thụt lùi trừ các quân Tốt. Cách thoái như thế nào, vị trí ra sao, hoàn toàn giống như lúc tấn.

c. Bình

Bình là đi ngang. Có thể đi ngang qua cánh phải hoặc cánh trái. Có bốn loại quân là Tướng, Xe, Pháo và Tốt có thể thực hiện nước bình, còn Mã, Tượng và Sĩ có cách đi đặc biệt nên không có nước đi ngang.

Khi đi ngang thì các quân Tướng, Xe, Pháo và Tốt thay đổi chỗ đứng từ đường dọc này sang đường dọc khác nên người ta không thể đếm giao điểm mà ghi số thứ tự của đường dọc là xác định được. Chẳng hạn Xe lộ 2 đang ở vị trí tuần hà di chuyển sang lộ 7, tức Xe 2 bình 7 thì nó vẫn tuần hà nhưng di chuyển sang trục lộ 7.

Quân Tướng và Tốt chỉ đi từng bước một nên nếu có bình thì chỉ đi sang trục lộ kế cận thôi, nhất là Tướng không được ra khỏi cung nên nước đi ngang càng hạn chế.

2. Khi ghi biên bản thì dùng ký hiệu để ghi cho nhanh

Tất nhiên đấu thủ nào muốn ghi đầy đủ, không dùng ký hiệu cũng được vì luật chơi không cấm việc này.

Phần trước chúng ta đã biết những chữ viết tắt để chỉ tên các quân cờ, đã học ký hiệu di chuyển quân, gồm tấn, thoái và bình. Và để xác định quân cờ, chúng ta biết gọi tên theo vị trí đứng của nó. Đã nắm được những điều trên thì có thể ghi được những nước đi của cả hai bên, đó là ghi biên bản ván đấu.

Khi ghi nhớ cần mỗi nước phải được thể hiện bằng bốn ký hiệu: trước tiên là ký hiệu quân cờ, như X (Xe), B (Binh), M (Mã)…, thứ hai là vị trí nó đứng (tên đường dọc), thứ ba là ký hiệu di chuyển: (.) tấn, (/) thoái, (-) bình, thứ tư là vị trí quân cờ mới đến.

Thí dụ trận đấu giữa hai đấu thủ, nước thứ nhất trắng đi Pháo 2 bình 5; đen đi Mã 8 tấn 7; nước thứ hai trắng đi Mã 2 tấn 3, đen đi tiếp Xe 9 bình 8; nước thứ ba trắng đi Xe 1 bình 2, đen đáp lại Tốt 7 tấn 1… Ta ghi biên bản với các ký hiệu ngắn gọn như sau:

1) P2-5 M8.7 2) M2.3 X9-8 3)X1-2 B7.1

Trường hợp có các quân cờ cùng loại cùng đứng chung một đường dọc thì ta ghi phân biệt bằng chữ viết tắt: trước (t), sau (s) hoặc giữa (g) và nếu ghi thêm chi tiết này thì không cần ghi vị trí đứng ban đầu cũng được.

3. Cách chỉ định vị trí các quân trong một thế cờ không cần vẽ hình bàn cờ

Khi thi đấu, ván cờ hoãn đấu, nhất thiết phải ghi biên bản chỉ định vị trí các quân lúc hoãn đấu. Người ta qui ước cách ghi như sau.

Ví dụ xem thế cờ dưới:

Cờ Tướng Nhập Môn: Chương 1 - Bàn cờ, quân cờ và luật chơi (4)

Trước hết ghi vị trí Tướng, Sĩ, Tượng, rồi đến Xe, Pháo, Mã và Tốt của bên trắng ở hàng trên, của bên đen ở hàng dưới. Theo thứ tự như vậy nhưng thế cờ không có quân nào thì bỏ qua quân đó. Sau cùng cần ghi rõ tổng số quân cờ của mỗi bên. Như thế cờ trên ta ghi:

Bên trắng: Tg5, S5, T5, T7, P5+6, M7+4, B4+6 (8 con)

Bên đen: Tg5, S5, T5, T7, P4+2 (5 con)

Như vậy hàng tuyến đáy làm chuẩn không ghi gì, bắt đầu tuyến áp đáy +1, tuyến Pháo +2, hàng tuyến Tốt +3, cứ như thế đếm lên để chỉ rõ hàng ngang nào. Cách ghi này có thể dùng cho dạy học, khi cho học sinh các thế cờ về nhà để giải, chỉ cần cho toạ độ như vậy cũng được, khỏi phải vẽ hình bàn cờ thêm cho mất thì giờ.

Quách Anh Tú, Lê Thiên Vị

 

  • Các quy ước về việc ghi chép ván cờ tướng ở
QUY ƯỚC CÁCH GHI LẠI VÁN CỜ TƯỚNG THEO LUẬT VIỆT NAM

1/ Bàn cờ:
____Các hình vẽ bàn cờ đều nhìn theo hàng dọc, với quy ước: bên phía dưới thuộc về bên đi trước (bên Tiên), còn phía trên thuộc về bên đi sau (bên Hậu). Ở giữa có Sông, mỗi bên đều có Cung là khu vực mà Tướng được di chuyển… nói chung cái này ai cũng biết chắc không cần nói thêm
____Với cách ghi cổ truyền từ xưa thì ta đánh số hệ thống toạ độ vẫn giữ như cũ, tức là các lộ thẳng đứng vẫn được đánh số từ 1 đến 9, tính từ phải sang trái theo hướng nhìn mỗi bên. (Tuy nhiên khi lập trình cho máy đánh cờ thì người ta đánh số gần giống cờ Vua: các Hàng bằng Chữ cái từ A->J và các Cột bằng Số từ 1->9, vì giúp thực hiện dễ hơn nhiều so với cách ghi cổ điển. Do đó trong các software cờ tướng hoặc các chỗ chơi cờ tướng online bạn sẽ thường thấy kiểu ghi toạ độ có dùng chữ)

2/ Màu Quân cờ:
____Dù thực tế quân cờ có thể có màu Đỏ và Đen, Trắng và Đen, Hồng và Xanh, Đỏ và Xanh… thì trong các sách cờ Tướng vẫn quy ước gọi 1 bên là quân Đen và 1 bên là quân Trắng. Với những sách cờ cũ thì phía bên dưới (Tiên) là quân Đen (nền Đen chữ Trắng), còn bên trên (Hậu) thì là Trắng (nền Trắng chữ Đen). Tuy nhiên hiện nay đa số các sách cờ đều đã vẽ ngược lại, Bên Tiên (phía dưới) sẽ gọi là bên Trắng, còn bên Hậu (phía trên) sẽ gọi là bên Đen.

3/ Ký hiệu:

A- Về quân cờ: được ghi tắt bằng những chữ như sau:

– Tướng : Tg (còn gọi là Suý/Soái)
– Sĩ : S
– Tượng : T (còn gọi là Bồ)
– Xe : X (gọi là Xa thì đúng hơn)
– Pháo : P
– Mã : M (gọi Ngựa cũng OK)
– Chốt: C (cũng có sách gọi là Binh và ký hiệu: B )

B- Chữ viết tắt: (chỉ dùng khi có 2 hoặc 3 quân nằm chung 1 lộ )

– Trước: t
– Sau: s
– Giữa: g

C- Về hướng di chuyển quân:

– Tấn: . (dấu chấm)
– Bình:  (dấu gạch ngang)
– Thối: / (dấu gạch xéo )

D- Về nhận định đánh giá:

– Nước đi hay: !
– Nước đi rất hay: !!
– Nước đi dở: ?
– Nước đi rất sai lầm: ??
– Nước đi hay nhưng còn phải xem lại: !?
– Nước đi tưởng dở nhưng không hẳn là dở: ?!
– Bên Tiên thắng: 1-0
– Bên Hậu thắng: 0-1
– Hoà : 1/2-1/2
– Bên Tiên ưu thế: +-
– Bên Hậu ưu thế: -+

trên đây là cách ghi chép biên bản ván cờ của VN, vốn là dựa theo cách ghi của các kỳ phổ Trung Quốc. Tuy nhiên hiện nay để dễ dàng cho người phương Tây đọc hơn thì còn có 3 cách ghi quốc tế khác: chuẩn WXF (phổ biến nhất), chuẩn FEN, chuẩn CCW …

(Visited 434 times, 3 visits today)